KIỂM SOÁT BỆNH TAI XANH TRONG CHĂN NUÔI HEO

KIỂM SOÁT BỆNH TAI XANH TRONG CHĂN NUÔI HEO

PGS.TS Phạm Ngọc Thạch

          Bệnh tai xanh hay còn gọi là rối loạn hô hấp và sinh sản, viết tắt là PRRS là một bệnh nguy hiểm, không mấy xa lạ với nhiều người chăn nuôi heo cũng như những người làm trong ngành chăn nuôi. Virus gây bệnh tai xanh (PRRS) có khả lưu hành theo gió trong vòng bán kính 3km. Có nghĩa là nếu 1 trang trại bất kỳ nằm quanh trang trại của chúng ta trong vòng bán kính 3 km có mầm bệnh thì rất có thể trang trại nhà chúng ta cũng bị nhiễm bệnh. Chưa nói đến trong quá trình vận chuyển, thì bán kính trên thiết nghĩ nó không có giới hạn.

Vì vậy, xây dựng một giải pháp tổng thể, để từ đó áp dụng phù hợp với từng hoàn cảnh chăn nuôi khác nhau, tránh những thiệt hại không đáng có do bệnh tai xanh gây ra là hết sức cần thiết. Cho nên, muốn kiểm soát tốt bệnh tai xanh (PRRS), chúng ta cần tiến hành đồng bộ, toàn diện không chỉ trong nội bộ trại nhà mình mà còn phải mở rộng phạm vi phòng bệnh ra ngoài trang trại của mình ít nhất là 3km.

1- Các biện pháp kiểm soát bệnh tai xanh

      Xét về tổng quát, chúng ta cần tiến hành đồng bộ 4 “biện pháp” cùng 1 lúc để kiểm soát bệnh tai xanh (PRRS):

        a/ Quản lý tốt sức khoẻ tổng đàn:

– Chế độ ăn uống tốt và phù hợp với từng giai đoạn độ tuổi.

– Chuồng trại thông thoáng, mát và sạch sẽ.

       b/ Quản lý tốt mầm bệnh trong môi trường.

– Thực hiện chăn nuôi cùng vào, cùng ra.

– Loại heo còi cọc, chậm lớn.

– Cách lý heo mới nhập đàn.

– Tẩy uế chuồng nuôi định kỳ bằng thuốc sát trùng.

       c/ Lịch tiêm vacxin đầy đủ, phù hợp.

– Tiêm phòng vacxin với các bệnh nguy hiểm.

– Kiểm tra hàm lượng kháng thể 6 tháng 1 lần.

d/ Sử dụng thuốc kháng sinh đúng cách và hiệu quả trong điều trị bệnh kế phát.

– Chọn kháng sinh phù hợp với từng vùng.

– Tuân thủ liều lượng và cách sử dụng.

2- Các biện pháp kiểm soát cụ thể:

Tùy thuộc vào mức độ nhiễm bệnh của trại (có 4 dạng trại tương ứng với 4 cấp độ nhiễm bệnh PRRS khác nhau):

a/ Trại nổ bệnh (đàn không ổn định).

            b/ Trại chưa ổn định (có bài thải virus).

            c/ Trại ổn định (không bài thải virus).

            d/ Trại âm tính (âm tính).

Như vậy, mục tiêu kiểm soát tốt bệnh tai xanh (PRRS) của chúng ta là đưa những trại nhiễm ở cấp độ 1 và 2 (trại nổ bệnh và trại chưa ổn định) về cấp độ 3 và 4 (Trại ổn định và trại âm tính với PRRS). Cụ thể:

* ĐỐI VỚI NHỮNG TRẠI NỔ DỊCH TAI XANH

         Thứ nhất, tuyệt đối không nhập thêm heo mới. Chỉ xuất bán (heo con, heo choai hay heo thịt) và không đưa heo còi trở ngược lại đàn.

Thứ hai, loại thải toàn bộ heo yếu, nhất là ở ô heo nái đẻ non, sảy thai, heo con sơ sinh dưới 0,8kg và những heo bị bệnh mãn tính không khỏi.

Tiếp theo, hãy sát trùng, vệ sinh sạch sẽ, định kỳ toàn bộ trang trại từ dụng cụ lao động, dụng cụ bảo hộ, chuồng trại, toàn bộ không gian trong và xung quanh trại.

Tiếp đến, giúp heo bệnh hạ sốt bằng Anagil C hoặc Paracetamol tinh kết hợp bổ sung thêm chất điện giải, các vitamin…để tăng sức đề kháng cho heo.

Nếu có điều kiện truyền nước muối sinh lý 0,9% cho heo qua tĩnh mạch tai (đối với nái) và qua xoang phúc mạc (đối với heo thịt) là cách làm hiệu quả nhất, nhanh nhất để giúp heo bổ sung điện giải, nâng cao sức đề kháng chống lại dịch bệnh.

Tiêm kháng sinh cho toàn bộ heo trong trại giúp hạn chế, ngăn chặn các bệnh kế phát (dùng thuốc kháng sinh có hoạt phổ rộng và ít bị vi khuẩn kháng thuốc): thông thường, kháng sinh Amoxicillin và Ceftiofur là kháng sinh được lựa chọn nhiều nhất do tính an toàn của nó đối với heo nái và đặc tính hoạt phổ rộng.

Hạn chế tối đa các stress cho heo: ngưng bấm nanh, cắt đuôi, thiến hoạn, lùi các chương trình vaccine cho đến khi heo khỏe hẳn.

Khi trại đã nổ dịch, tiêm bất kỳ loại vaccine nào cho heo cũng đều rất dễ dàng làm cho trại nổ ra bệnh đó. Giải pháp tốt nhất lúc này là ngưng toàn bộ chương trình vaccine khác, sau đó trộn kháng sinh vào thức ăn cho toàn đàn khoảng 2 tuần sau thì tiêm vaccine PRRS.

* ĐỐI VỚI CÁC TRẠI CHƯA ỔN ĐỊNH BỆNH TAI XANH

Giải pháp với từng đối tượng heo như sau:

Đối với việc nhập heo hậu bị:

– Trước khi quyết định nhập: làm xét nghiệm máu → chỉ nhập đàn giống có chỉ số 0,4< S/P <2; tiêm vaccine bổ sung cho những nái có chỉ số S/P < 0,4 sau 2 tuần xét nghiệm lại; Không nhập những heo có S/P > 2.

– Nhập theo kế hoạch, tỷ lệ thay đàn lý tưởng là 30-35%. Không nên quá 40%.

– Nái hậu bị nên: mua từ 1 nguồn, biết rõ nguồn gốc (ổn định về PRRS). Mua từ lúc còn nhỏ (5,5 tháng tuổi) để đủ thời gian nuôi cách ly và làm quen với PRRS (hoặc đã chủng được 3 mũi vắc xin PRRS).

– Nhập về→ nuôi cách ly riêng biệt khoảng 2 tuần (chuồng cách ly cách các chuồng khác khoảng 100m, có công nhân và dụng cụ riêng biệt) → sau đó nuôi thích nghi bên ngoài trại 3 tháng; cho nái loại thải khỏe mạnh ở chung với nái nuôi thích nghi theo tỷ lệ 1/10 (sau 2-3 tuần bán nái loại đó đi và đổi nái khác).

Đối với heo nái:

– Cho nái phối lần đầu lúc 7-8 tháng tuổi, khi nái đạt trên 120 kg.

– Khi phối, chọn tinh của heo nọc khỏe mạnh, mua tinh từ trang trại uy tín.

Đối với heo con và heo thịt:

– Heo con và heo thịt đi theo 1 hướng, không nhập quay trở lại.

– Nên nuôi cùng vào cùng ra.

Đối với toàn trại:

– Thực hiện nghiêm các quy định an toàn sinh học trong trại, định kỳ phun thuốc sát trùng, vệ sinh chuồng trại thường xuyên.

– Tiêm đầy đủ các vaccine trong quy trình như bệnh dịch tả, bệnh MH…

– Tiêm vaccine PRRS cho heo nái hậu bị trước khi phối để có miễn dịch đầy đủ cho heo nái và heo con.

– Sau 6 tháng, lấy máu heo con (4, 6, 8 tuần tuổi) xét nghiệm để đánh giá mức độ ổn định của trại với PRRS. Nếu chỉ số S/P nhỏ dần theo tuổi heo thì đàn đã ổn định. Nếu S/P tăng dần theo tuổi heo thì trại chưa ổn định, còn có sự bài thải vi rút trên heo cai sữa và heo thịt → Chủng lại vaccine cho nái cai sữa lứa đầu.